Pháp điển Net - Thông tư số 08/1999/TT-BYT ngày 04/05/1999 của Bộ y tế về việc hướng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản vệ
Web Tin tức Pháp luật
 

 
 
Trang chủ -> Pháp điển Net ->  Văn bản mới


 Quay trở lại 
 Nội dung văn bản (Trích)
 

                     BỘ Y TẾ                               CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                                                                   Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

            Số: 08/1999/TT-BYT

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 1999

THÔNG TƯ
HƯỚNG DẪN PHÒNG VÀ CẤP CỨU SỐC PHẢN VỆ

Hiện nay công nghiệp hóa chất, dược phẩm và thực phẩm ngày càng phát triển. Các phản ứng miễn dịch và dị ứng ngày càng nhiều, đặc biệt là sốc phản vệ đã gây nhiều trường hợp tử vong đáng tiếc. Trong lĩnh vực y tế, nhiều loại thuốc đưa vào cơ thể bằng bất cứ đường nào đều có thể gây sốc phản vệ và dẫn đến tử vong, đặc biệt một số thuốc thường gặp như: penicillin, streptomycin, thuốc cản quang có iod và một số thuốc gây tê, gây mê. ở người có cơ địa dị ứng, sốc phản vệ có thể xảy ra ngay sau khi mới dùng thuốc lần đầu, hoặc sau khi dùng thuốc vài ba lần. Một người đã làm test nội bì với kết qủa âm tính vẫn có thể bị sốc phản vệ khi dùng thuốc đó trong những lần dùng tiếp theo. Đó là những khó khâu của y học mà thầy thuốc, người bệnh, gia đình và mọi người cần biết

Tuy nhiên các tai biến và tử vong do sốc phản vệ có thể giảm đi khi thầy thuốc có đầy đủ kiến thức về sốc phản vệ, khai thác kỹ tiền sử dị ứng của người bệnh; chỉ định thuốc thận trọng, đặc biệt luôn chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện cấp cứu sốc phản vệ.

Để phòng ngừa và giảm tối thiểu các tai biến, tử vong do sốc phản vệ gây ra, Bộ Y tế hướng dẫn các thầy thuốc, các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước, tư nhân, các cơ sở khám chữa bệnh có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện các yêu cầu sau:

1. Khi khám bệnh, thầy thuốc phải khai thác kỹ tiền sử dị ứng (theo quy định tại phụ lục số 1) của người bệnh như: hen phế quản, chàm, mẩn ngứa, phù Quincke.., các dị nguyên như thuốc, thức ăn, côn trùng.. gây ra dị ứng và sốc phản vệ.

2. Thày thuốc phải khai thác triệt để tiền sử dị ứng, ghi vào bệnh án hoặc sổ khám bệnh những thông tin khai thác được về tiền sử dị ứng của người bệnh. Khi phát hiện người bệnh có tiền sử dị ứng hoặc sốc phản vệ với một loại thuốc gì, thì thày thuốc phải cấp cho người bệnh một phiếu (theo quy định tại phụ lục số 2) ghi rõ các thuốc gây dị ứng và nhắc người bệnh đưa phiếu này cho thầy thuốc mỗi khi khám chữa bệnh.

3. Với các thuốc thông thường như vitamin B1, vitamin B6, vitamin C... thì nên cho uống, trừ trường hợp thật cần thiết phải tiêm. Thí dụ: trong suy tim cao cấp do thiếu vitamin B1 thì phải tiêm vitamin B1.

4. Không được dùng các thuốc đã gây dị ứng và sốc phản vệ cho người bệnh.

Trường hợp đặc biệt cần dùng các thuốc này thì phải hội chẩn để thống nhất chỉ định và được sự đồng ý của người bệnh, gia đình người bệnh bằng văn bản, có biện pháp tích cực để phòng ngừa sốc phản vệ.

            . . . . . . . . . . . . . . . .

 

            . . . . . . . . . . . . . . . .

* Băng ép chi phía trên chỗ tiêm hoặc đường vào của nọc độc

Chú ý:

- Theo dõi bệnh nhân ít nhất 24 giờ sau khi huyết áp đẫ ổn định

- Sau khi sơ cứu nên tận dụng đường tiêm tĩnh mạch đùi (vì tĩnh mạch to, nằm phía trong động mạch đùi, dễ tìm)

- Nếu huyết áp vẫn không lên sau khi truyền đủ dịch và adrenaline, thì có thể truyền thêm huyết tương, albumin (hoặc máu nếu mất máu) hoặc bất kỳ dung dịch cao phân tử nào sẵn có

- Điều dưỡng có thể sử dụng adrenaline dưới da theo phác đồ khi y, bác sỹ không có mặt

- Hỏi kỹ tiền sử dị ứng và chuẩn bị nộp thuốc cấp cứu sốc phản vệ trước khi dùng thuốc là cần thiết.

 

Thông tin khác
TThieuluc
Đang có hiệu lực 
Ngayhieuluc
19/05/1999 
Ngày công báo
 
Số công báo
 
Số trang
 

 

 
© 2007 by KhaiTri Software